Tra cứu Thánh Kinh

1 Cả đất vốn có một ngôn ngữ và một loại chữ.
2 Khi từ phương đông dời đi, người ta gặp một thung lũng trong xứ Si-nê-a thì ở tại đó.
3 Người này nói với người kia: Nào! Chúng ta hãy làm gạch và nung trong lửa. Họ dùng gạch thế cho đá, còn chai thế cho hồ.
4 Họ nói: Nào! Chúng ta hãy xây một cái thành và dựng lên một ngọn tháp, chót cao đến tận trời. Chúng ta hãy làm cho rạng danh, kẻo chúng ta phải tản lạc khắp trên mặt đất.
5 Đấng Tự Hữu Hằng Hữu ngự xuống, để xem cái thành và ngọn tháp do con cái loài người xây nên.
6 Đấng Tự Hữu Hằng Hữu phán: Này, dân chúng là một và bọn họ có một thứ tiếng nói; và này là công việc chúng nó đang bắt đầu làm. Bây giờ, chẳng có gì có thể ngăn chúng nó làm điều chúng nó đã quyết định.
7 Nào! Chúng Ta hãy xuống, làm lộn xộn tiếng nói của chúng nó, để chúng nó nghe không được lời nói của người này với người kia.
8 Rồi, từ đó, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ ngưng công việc xây cất thành.
9 Thế nên, thành được gọi là Ba-bên, vì tại nơi đó, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu làm lộn xộn tiếng nói của cả đất. Cũng từ đó, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất. [Ba-bên có nghĩa là lộn xộn.]
10 Đây là dòng dõi của Sem: Cách hai năm, sau cơn nước lụt, Sem được một trăm tuổi, sinh A-bác-sát.
11 Sau khi Sem sinh A-bác-sát rồi, còn sống được năm trăm năm, sinh các con trai và các con gái.
12 A-bác-sát được ba mươi lăm tuổi, sinh Sê-lách.
13 Sau khi A-bác-sát sinh Sê-lách rồi, còn sống được bốn trăm lẻ ba năm, sinh các con trai và các con gái.
14 Sê-lách được ba mươi tuổi, sinh Hê-be.
15 Sau khi Sê-lách sinh Hê-be rồi, còn sống được bốn trăm lẻ ba năm, sinh các con trai và các con gái.
16 Hê-be được ba mươi bốn tuổi, sinh Bê-léc.
17 Sau khi Hê-be sinh Bê-léc rồi, còn sống được bốn trăm ba mươi năm, sinh các con trai và các con gái.
18 Bê-léc được ba mươi tuổi, sinh Rê-hu.
19 Sau khi Bê-léc sinh Rê-hu rồi, còn sống được hai trăm lẻ chín năm, sinh các con trai và các con gái.
20 Rê-hu được ba mươi hai tuổi, sinh Sê-rúc.
21 Sau khi Rê-hu sinh Sê-rúc rồi, còn sống được hai trăm lẻ bảy năm, sinh các con trai và các con gái.
22 Sê-rúc được ba mươi tuổi, sinh Na-cô.
23 Sau khi Sê-rúc sinh Na-cô rồi, còn sống được hai trăm năm, sinh các con trai và các con gái.
24 Na-cô được hai mươi chín tuổi, sinh Tha-rê.
25 Sau khi Na-cô sinh Tha-rê rồi, còn sống được một trăm mười chín năm, sinh các con trai và các con gái.
26 Còn Tha-rê được bảy mươi tuổi, sinh Áp-ram, Na-cô, và Ha-ran.
27 Đây là dòng dõi của Tha-rê: Tha-rê sinh Áp-ram, Na-cô, và Ha-ran; Ha-ran sinh Lót.
28 Ha-ran qua đời tại quê hương mình, tức là U-rơ, thuộc về xứ Canh-đê, khi cha của ông là Tha-rê hãy còn sống.
29 Áp-ram và Na-cô cưới vợ; vợ Áp-ram tên là Sa-rai; vợ Na-cô tên là Minh-ca, con gái của Ha-ran, cha của Minh-ca và cha của Dích-ca.
30 Sa-rai son sẻ, nên bà không có con.
31 Tha-rê đem Áp-ram, con trai mình, Lót, con trai Ha-ran, cháu mình, và Sa-rai, vợ Áp-ram, dâu mình, cùng ra khỏi U-rơ, thuộc về xứ Canh-đê, để đi đến xứ Ca-na-an. Khi họ vào đến Cha-ran thì ở lại tại đó.
32 Những ngày của Tha-rê là hai trăm lẻ năm năm. Tha-rê qua đời tại Cha-ran.